Thứ tư, ngày 29 / 03 / 2017
RSS sachyte.com

MN_HOME Sức khỏe chuyên khoa Tiết niệu

Phương pháp lọc màng bụng trong suy thận

Lọc màng bụng (LMB) là truyền 1-3 lít dịch lọc chứa glucose vào trong khoang màng bụng rồi lại rút ra sau 2- 4 giờ. Cũng như thận nhân tạo (TNT), các chất độc được lấy đi qua màng bụng bởi siêu lọc và khuyếch tán do độ chênh nồng độ.

Lọc màng bụng (LMB) là truyền 1-3 lít dịch lọc chứa glucose vào trong khoang màng bụng rồi lại rút ra sau 2- 4 giờ. Cũng như thận nhân tạo (TNT), các chất độc được lấy đi qua màng bụng bởi siêu lọc và khuyếch tán do độ chênh nồng độ.

Tags: tu van suc khoe, kham thai, viêm gan b, nam khoa, suc khoe tinh duc, xet nghiem hiv, benh tieu duong, tu van suc khoe truc tuyen

Phương pháp lọc màng bụng trong suy thận

 

Tốc độ lọc giảm dần theo thời gian giữ dịch lọc trong ổ bụng và  ngừng hẳn khi có cân bằng  các thành  phần giữa huyết tương và dịch lọc. Các chất  tan, nước hấp thụ từ khoang màng bụng qua phúc mạc vào tuần hoàn mao mạch màng bụng. Tốc độ hấp thu này thay đổi theo từng người bệnh và có thể thay đổi do nhiễm khuẩn  màng bụng, do dùng thuốc (β block, thuốc chẹn dòng canxi) và những yếu tố vật lý (như tư thế, lao động).

1. Những đặc tính của màng bụng liên quan  đến  thanh lọc  máu.

Diện tích màng bụng xấp xỉ bằng diện tích cơ thể. Phần màng bụng bao phủ nội tạng thanh lọc máu tốt hơn mạc treo và phúc mạc còn lại. Những phân tử trung bình từ 500-5000 dalton (như vitamin B12) được thanh lọc trong lọc màng bụng nhanh hơn trong thận nhân tạo. Hệ số thanh thải vitamin B12 ở lọc màng bụng liên tục là 50 lít/tuần, ở thận nhân  tạo là

30 lít/tuần (người bình thường 1008 lít/tuần). Lọc màng bụng thanh lọc những phân tử có khối lượng nhỏ kém hơn thận nhân tạo. Ví dụ: hệ số thanh lọc urê ở lọc màng bụng là 84 lít/tuần, ở thận  nhân  tạo là 135 lít/tuần (người bình thường là 604 lít/tuần).

Khả năng thanh lọc của màng bụng tăng lên nếu tăng số lần thay đổi dịch lọc. Những thuốc giãn mạch  làm tăng khả năng thanh lọc và  những thuốc co mạch  lại có tác dụng ngược lại.

2. Kỹ thuật lọc màng bụng.

Có nhiều loại nhưng ở lâm sàng hay áp dụng 2 kỹ thuật sau:

- Lọc màng bụng liên tục (Continuos ambulatory peritoneal dialysis: CAPD).

- Lọc màng bụng chu kỳ liên tục còn gọi là LMB gián đoạn vào ban đêm.

Trong kỹ thuật CAPD, người ta đưa vào ổ bụng dịch lọc và rút ra 3-4 lần/ngày (thao tác bằng tay).

Trong kỹ thuật lọc màng bụng gián  đoạn vào ban đêm, dịch lọc được đưa vào ổ bụng và thay đổi tự động bằng máy chạy tuần hoàn dịch lọc vào ban đêm, bệnh nhân vẫn ngủ.

Máy tự động thay dịch chu kỳ 4-5 lần/đêm. Lần thay dịch mới về sáng sẽ được giữ lại trong ổ bụng.

Dịch lọc màng bụng có bán sẵn trên thị trường và  đóng túi từ 2,5-3 lít. Người ta dùng lactat làm chất  đệm thay cho axetat vì chất  này thúc đẩy nhanh xơ màng  bụng; còn nếu dùng chất  đệm  là bicacbonat sẽ gây tủa Ca++  và caramen hoá glucose. Khi bị viêm màng bụng cấp, người ta thêm vào dịch lọc heparin và kháng  sinh. Insulin cũng có thể thêm  vào nếu bệnh nhân bị tiểu đường.

3. Dùng phương pháp lọc màng bụng trong các trường hợp

Lọc màng bụng có 2 phương pháp: lọc trong một giai đoạn ngắn và lọc lâu dài.

+ Lọc màng bụng trong một thời gian ngắn khi điều trị suy thận cấp hoặc trong lúc chờ tạo lỗ thông động- tĩnh mạch (chuẩn bị cho thận nhân tạo) hoạt động.

+ Lọc màng bụng lâu dài khi bệnh nhân bị suy thận mạn tính giai đoạn cuối có những

đặc điểm sau:

- Không  tạo được đường vào mạch máu cho chạy thận nhân tạo.

- Trạng thái tim mạch không ổn định dễ bị tai biến khi chạy thận nhân tạo.

- Có loét  dạ dày-tá tràng; không dùng được heparin để chạy thận nhân  tạo.

- Bệnh nhân trên 65 tuổi.

+ Chống chỉ định của lọc màng bụng rất ít. Người ta không lọc màng bụng khi khoang màng bụng bị nhiễm trùng, dính màng bụng nhiều, cơ hoành  không  kín để dịch tràn lên khoang ngực, thoát vị bẹn rộng, hoặc do khả năng thanh lọc của màng bụng thấp.

4. Các phương pháp tạo đường vào khoang ổ bụng.

Người ta đưa ống thông (catheter) vào trong ổ bụng.

- Nếu chỉ  cần lọc trong một giai đoạn  ngắn (bệnh cấp  tính), người  ta làm ngay tại giường bệnh, trích một lỗ nhỏ ở thành bụng trước, luồn ống thông có 2 đầu, có nhiều lỗ bên vào ổ bụng với sự trợ giúp về lực của một nòng kim loại trong ống thông (guidewire), làm kiểu này hay bị nhiễm trùng, nhất là duy trì ống thông trong vòng quá 72 giờ.

- Nếu cần lọc lâu dài (bệnh mạn tính), người ta hay dùng ống thông làm bằng cao su silicon (Tenckhoff catheter) có 2 đầu (một đưa dịch vào, một làm đường lấy  ra). Thường đặt ống thông qua một đường hầm dưới da rồi mới vào ổ bụng (làm tại phòng mổ) để tránh nước trong ổ bụng chảy ra và tránh  nhiễm khuẩn từ ngoài vào ổ bụng.

5. Biến chứng có thể gặp

Lọc màng bụng có nhiều biến chứng. Biến chứng nguy hiểm nhất  là  nhiễm trùng ổ bụng do vi khuẩn nhiễm qua thành bụng vùng đặt ống thông, chủ yếu là các  vi khuẩn gram (+) (chiếm 75%). Bệnh nhân sốt, đau  và có phản ứng thành bụng, dịch lọc rút ra đục, soi kính hiển vi có nhiều bạch  cầu. Điều trị bằng kháng  sinh mẫn  cảm  với vi khuẩn (cho vào dịch lọc và đường toàn thận).

nguồn: bệnh học

  

Hiện chưa có bình luận nào

Họ Tên:
Email:

Nội dung: