Thứ tư, ngày 29 / 03 / 2017
RSS sachyte.com

MN_HOME Sức khỏe chuyên khoa Chuyên khoa khác

Selen và một số điều chưa biết đối với sức khỏe con người

Thiếu các nguyên tố vi lượng, con người sẽ bị rối loạn chức năng dẫn đến các bệnh nguy hiểm. Selen là một trong các nguyên tố vi lượng đó. Selen có mặt hầu hết trong các mô của động vật và con người, có ảnh hưởng to lớn đến quá trình sinh lý, sinh hóa trong cơ thể.
Thiếu các nguyên tố vi lượng, con người sẽ bị rối loạn chức năng dẫn đến các bệnh nguy hiểm. Selen là một trong các nguyên tố vi lượng đó. Selen có mặt hầu hết trong các mô của động vật và con người, có ảnh hưởng to lớn đến quá trình sinh lý, sinh hóa trong cơ thể.

Cho đến những năm đầu thế kỷ XX, hầu như chỉ có những thông báo về tác hại của selen và các hợp chất của selen đối với con người và động vật. Người ta biết đến selen là một chất gây độc, gây què và tử vong đối với các động vật ăn cỏ. Một số triệu chứng điển hình ở ngựa được miêu tả như rụng lông đuôi, lông bờm, phù xương, móng… dẫn đến viêm móng, rụng móng có liên quan đến selen. Nhưng đến những năm 1959, khi nghiên cứu hiện tượng thoái hóa gan ở chuột, các nhà khoa học nhận thấy selen có khả năng giảm hiện tượng này. Tiếp theo đó một loạt các công trình khoa học nghiên cứu toàn diện về selen đã được tiến hành. Và rất nhanh chóng sau đó đến năm 1960 selen đã được công nhận là một nguyên tố vi lượng cần thiết cho người và động vật.

(Việc cung cấp đầy đủ nguyên tố vi lượng thiết yếu selen là điều kiện tiên quyết để có một cơ thể khỏe mạnh. Ảnh sưu tầm)

Vậy tại sao người ta lại thay đổi hẳn quan niệm về nguyên tố này. Trước hết, chúng ta cần đưa ra một cái nhìn tổng thể về nguyên tố selen. Selen được phát hiện năm 1817 bởi một nhà hóa học người Thụy Điển là Berzelius (1779 - 1848) nằm ở bảng 6A trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, cùng với oxy, lưu huỳnh và telu. Selen có tính chất hóa học gần giống với lưu huỳnh và trên thực tế selen có thể thay thế hợp chất của lưu huỳnh trong các hợp chất hữu cơ để tạo ra những hợp chất tương tự. Selen có nhiều mức oxy hóa khác nhau là + 4, +6 và – 2; các dạng hợp chất của selen thường gặp là selen dioxyd (SeO2), acid selenơ (H2Se03), muối selenit (SeO32-), acid selenic (H2SeO4), muối selenat (SeO42-) hoặc dạng selenid (Se2-). Ngoài ra, các hợp chất selen đáng chú ý trong dinh dưỡng và sức khỏe là của các dạng methyl hóa và của selen như (CH3)2Se, (CH3)2Se+, và các dạng selen hữu cơ là các selen Oacid amin như selennocystein, selennocystin, selenomethionin….

Selen có trong thành phần enzin này làm phân hủy các lipoperoxyd, chống sự xuất hiện của adehyd là và các gốc tự do lạ có thể gây tổn hại cho nhiễm sắc thể. Ngoài ra còn nhiều enzim khác và một số co-enzym có chứa selen hoặc cần có sự có mặt của selen mới sinh tổng hợp được – galactosidase, nitrate reducase, papain, Co-enzym Q ( tên khác là ubiquinon – một chất chống oxy hóa chủ yếu của cơ thể)..

Vai trò chống oxy hóa của selen

Chúng ta đều biết gốc tự do là các tiểu phân hóa học (phân tử, nguyên tử inon) có một điện tử đơn độc ở lớp ngoài cùng. Gốc tự do rất dễ tương tác với tất cả các phân tử của các tế bào bên cạnh nó, phá vỡ màng tế bào, làm hư hại gen, hoặc hủy hoại toàn bộ tế bào. Gốc tự do chính là nguyên nhân gây già hóa cơ thể, các bệnh lý tim mạch ung thư, suy giảm hệ miễn dịch, đục thủy tinh thể… Gốc tự do sinh ra do chính hoạt động sống của mỗi tế bào và do tác dộng của môi trường sống (tia phóng xạ, tử ngoại, hóa chất độc, bụi…). Thường thì các gốc tự do được sinh ra với lượng rất nhỏ và bị hệ thống chống gốc tự do của cơ thể phá hủy. Nhưng khi hệ thống này bị quá tải hay rối loạn thì quá trình lão hóa và các quá trình bệnh lý sẽ tiến triển rất nhanh.

Selen có tác dụng quan trọng trong quá trình phân hủy và ngăn cản sự hình thành gốc tự do trong cơ thể. Nó tham gia vào trung tâm hoạt động của enzim glutathione peroxydase ở trong tế bào và tham gia vào thành phần của nhiều chất hoạt động sinh học chứa nhóm –SH; - she… Tính chất chống oxy hóa của selen không chỉ do bản thân các hợp chất có sẵn của selen, mà các phần quan trọng hơn là do selen xúc tác tổng hợp nên Co-enzym Q. Từ tác dụng này mà dẫn đến một loạt các vai trò khác của selen dưới đây.

Vai trò trong chống lão hóa

Các hợp chất của selen và của Co-enzym Q đảm bảo sự toàn vẹn của màng tế bào, làm chậm quá trình lão hóa của tế bào do đó cũng làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể. Selen cũng với các vitamin E, C, A là các chất chống oxy hóa trung hòa tự do sinh ra hàng ngày, hạn chế tổn thương do gốc tự do gây nên, vì vậy làm chậm quá trình lão hóa kéo dài tuổi thọ con người.

Vai trò trong ngăn ngừa bệnh ung thư

Như đã đề cập, gốc tự do hủy hoại tế bào và một trong những hậu quả của quá trình này là có thể làm cho tế bào bình thường trở thành tế bào ung thư. Tế bào ung thư trong quá trình phân chia sẽ trở thành khối u và lan rộng khắp cơ thể. Một nghiên cứu do các nhà khoa học Hoa Kỳ tiến hành tại các vùng khác nhau cho thấy số lượng người chết do ung thư đại tràng và ung thư vú tỉ lệ nghịch với hàm lượng selen có trong khẩu phần ăn. Ngoài ra theo một nghiên cứu gần đây, selen có thể giúp phòng ngừa ung thư tuyến tiền liệt, ung thư phổi, buồng trứng, thực quản…

Vai trò trong ngăn ngừa bệnh tim mạch

Selen có tác dụng phân hủy các lipoperoxyd nên có thể ngăn ngừa chứng xơ vữa động mạch. Selen còn ngăn chặn vôi hóa các động mạch do thừa vitamin D. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng selen và Co-enzym Q có vai trò đặc biệt trong sự chuyển hóa của Colla-gen thông qua ức chế enzyme Coll-genase. Đây là điều kiện rất cần thiết để phòng tránh các bệnh tim mạch. Bên cạnh đó, selen có hàm lượng khá cao trong tiểu cầu, ngăn ngừa sự kết tập tiểu cầu và phòng chống đông máu giúp giữ ổn định huyết áp.

Vai trò trong nhãn khoa

Hàm lượng selen có trong võng mạc cao hơn hẳn so với các tổ chức khác của cơ thể. Tác dụng làm sáng mắt của selen có thể là do sự điều hòa quá trình sinh các gốc tự do trong võng mạc. Selen còn đảm bảo sự toàn vẹn của thủy tinh thể do vậy ngăn ngừa được bệnh đục thủy tinh thể.

Vai trò trong hình thành hệ thống miễn dịch

Rất nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng selen có trong thành phần nhiều loại protein và trong quá trình sinh tổng hợp protein, đặc biệt là các globulin miễn dịch. Một số tác giả khác cho rằng, ái lực giữa kháng nguyên và kháng thể là do một tính chất đặc hiệu của kháng thể, mà tính chất này hình thành được là do sự có mặt của selen. Đến nay, vai trò này của selen vẫn còn đang được tiếp tục nghiên cứu.

Vai trò trong nhận biết và điều trị HIV/AIDS

Người ta phát hiện ra giữa selen và HIV có mối liên hệ chặt chẽ. Sự suy giảm selen ở những người nhiễm HIV là một dấu hiệu nhận biết rất nhạy cảm và chính xác, thậm chí trên cả dấu hiệu dinh dưỡng, phản ánh tiến triển của bệnh và sự suy giảm miễn dịch. Ngoài ra, hàm lượng selen còn ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh. Tuy nhiên, điều này còn cần phải được nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn.

Bên cạnh các tác dụng chính thì selen còn có vai trò làm giảm quá trình viêm. Tác dụng này được phát hiện khi các nhà khoa học nghiên cứu rễ cây Trinh nữ hoàng cung – một loại dược liệu đã được đông y dùng trị bệnh viêm khớp rất có hiệu quả - thấy có chứa hàm lượng selen cao. Sau đó, người ta nhận thấy, tác dụng này tăng lên nhiều khi phối hợp selen với vitamin E.

Và tác hại của selen

Selen có nhiều lợi ích, bên cạnh đó, nếu dùng selen với lượng quá cao sẽ gây ngộ độc cấp tính, có thể dẫn đến tử vong ở động vật. Hiện người ta chưa khẳng định chắc chắn tác hại của việc dư thừa selen trên người, nhưng những dấu hiệu đầu tiên về độc tính của selen như: hỏng răng, mất màu vàng trên da, phù dưới da, mất móng chân, móng tay… đã được phát hiện. Do vậy, vấn đề đặt ra là phải tìm ra được hàm lượng tối ưu cho việc sử dụng selen có hiệu quả. Các nhà khoa học Hoa Kỳ đã xác định hàm lượng selen trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày của người lớn là từ 50 - 200g và trên cơ sở đó, Hội đồng nghiên cứu Liên bang Hoa Kỳ đã chấp nhận được selen đưa vào cơ thể người hằng ngày là 100g đối với nam giới và 70 g đối với nữ giới. Trẻ em cần một lượng selen trong khẩu phần ăn tối ưu là 10 – 15 g/ngày. Phụ nữ có thai và cho con bú nên tăng thêm 10 – 20 g/ngày. Liều selen như trên là đủ dự phòng một cách hiệu quả các bệnh do thiếu selen gây ra.

Nguồn cung cấp selen

Selen phân bố khắp nơi trên trái đất nhưng với hàm lượng trung bình nhỏ (khoảng 0,09 ppm) và không tập trung thành mỏ lớn. Selen tồn tại trong đất, nước tự nhiên, trong thực vật và động vật. Selen được cung cấp cho con người thông qua chế độ dinh dưỡng hàng ngày và qua một số loại dược phẩm có chứa selen.

Trong các loại thực phẩm là thực vật thì lúa mỳ là cây có chứa selen nhiều nhất, tiếp sau đó là ngô, bắp cải, đậu hà lan, cà rốt, củ cải, cà chua, tỏi… Các loại nấm cũng có hàm lượng selen tập trung khá cao. Nhưng đối với con người thì lượng selen đáng quan tâm là trong động vật, đặc biệt là trong cá. Đây là nguồn cung cấp selen chủ yếu cho con người thông qua bữa ăn hàng ngày.

Nói chung, hàm lượng selen có trong cá nước ngọt và cá biển tương đương nhau, trong đó tập trung chủ yếu tại gan và da cá. Trong các loại cá thì cá ngừ có chứa nhiều selen hơn cả, sau đó là cá nục, cá thu. Ngoài ra, tôm đồng, sò, hến cũng là một nguồn selen rất phong phú mà con người có thể sử dụng.

Nhờ những tác dụng như vậy cùng với sự phát triển nhanh chóng của các ngành khoa học và công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp dược, người ta đã ứng dụng để sản xuất ngày càng nhiều dạng thuốc chứa selen như Belaf, Youngton, Cigelton, Saylom… Hầu hết các loại thuốc này đều là sự kết hợp giữa selen trong nấm men và vitamin A, vitamin E, vitamin C với lượng selen là 50 g. Các chế phẩm trên đều có tác dụng chống oxy hóa rất tốt, dùng để phòng và điều trị cao huyết áp, phòng ngừa các bệnh tim mạch, viêm khớp rối loạn thị lực, rối loạn chức năng tuần hoàn. Ngoài ra, còn phối hợp với các chất dịch tiết Nhân sâm, các vitamin và các chất khoáng chất trong các chế phẩm như Geriton, Ginsomin, Plenyl… và thêm cả các nguyên tố vi lượng như trong các chế phaame High Potency, Super Enrercy… có tác dụng bổ sung vitamin, tăng sức đề kháng cho cơ thể và phục hồi thể lực.

Những nghiên cứu selen trong tương lai chắc chắn sẽ càng được mở rộng và chuyên sâu hơn nữa, nhất là vai trò của selen đối với hệ thống miễn dịch trong nhận biết và điều trị HIV/ADDS. Ngoài ra, một hướng nghiên cứu mới về selen là các ứng dụng của selen trong mỹ phẩm đặc biệt là các loại kem dưỡng da cũng đang được mở ra. Tuy nhiên với các kết quả nghiên cứu đến nay chắc chắn một điều rằng, việc cung cấp đầy đủ nguyên tố vi lượng thiết yếu selen là điều kiện tiên quyết để có một cơ thể khỏe mạnh.

Ds. Phương Thảo

(TTVN số 7)

 

  

Hiện chưa có bình luận nào

Họ Tên:
Email:

Nội dung: