Thứ tư, ngày 29 / 03 / 2017
RSS sachyte.com

MN_HOME Sức khỏe chuyên khoa Tiết niệu

Sinh lý bệnh tiết niệu

Bộ máy tiết niệu bao gồm nhiều bộ phận tronh đó thận đóng vai trò chủ yếu.Thận có hai chức năng:chức năng nội tiết(tạo renin và erithropoetin) và chức năng ngoại tiết.Chức năng ngoại tiết của thận nhằm duy trì tình trạng hằng định của nội môi...

SINH LÝ BỆNH TIẾT NIỆU
GS NGUYỄN HỮU MÔ


Bộ máy tiết niệu bao gồm nhiều bộ phận tronh đó thận đóng vai trò chủ yếu.Thận có hai chức năng:chức năng nội tiết(tạo renin và erithropoetin) và chức năng ngoại tiết.Chức năng ngoại tiết của thận nhằm duy trì tình trạng hằng định của nội môi,cụ thể là thông qua bài tiết nước tiểu để:
-Thải trừ các cặn bã của chuyển hóa protein
-Thải trừ các chất độc
-Ổn định các thành phần lý hóa của nội môi
-Điêu tiết cân bằng axit-bazơ
-Điều tiết cân bằng nước điên giải
Quá trình bài tiết nước tiểu thực hiện được là nhờ có chức năng lọc của cầu thận,chức năng tái hấp thu và chức năng tiết của ống thận.
Để đảm bảo cho thận hoạt động,lượng máu tới thận khá nhiều:trọng lượng của thận chỉ chiếm 5% trọng lượng cơ thể song lượng máu của thận lên tới 25% lưu lượng tuần hoàn của cơ thể(trung bình mỗi phút khoảng 1,2l máu qua thận).

I. NHẮC LẠI ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG TIẾT NIỆU

A-ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO CỦA THẬN

Nếu đi từ phía mao mạch của cầu thận tơi bao Bao-man,lần lượt qua các lớp sau:
-Lớp tế bào nội mao mạch:tạo thành một màng rỗ (đường kính 0,1 micromet)
-Màng nền của thành mao mạch.
-Lớp tế bào lát có nhiều chân xen kẽ với nhau (gọi là tế bào chân) bám vào mặt ngoài màng nền mao mạch.
-Lớp tế bào lát đơn của bao Bao-man đó là thành của bao này còn có lá tạng do tế bào chân tạo nên. 
Quá trình lọc ở cầu thận là sự khuếch tán qua mang nền mao mạch.
Những lớp tế bào này bình thường cho lọt qua mọi thành phần của huyết tương vào nang thận,trừ nhưng protein có trọng lượng phân tử lớn,trên 68000.Hemoglobin(68000) qua được cầu thận, còn albumin huyết thanh(70000) bị cấu thận giữ lại.Khi cầu thận bị tổn thương như trong viêm các protein máu có thể ra nước tiểu(protein niệu).
Cạnh cầu thận có một tổ chức gồm những tế bào rất nhạy cảm đối với thay đổi của huyết áp(gọi là bộ máy cạnh cầu thận):khi huyết áp giảm thì tế bào này tiết ra men renin,men này vào máu gây co mạch đồng thời gây tăng tiết aldosteron nhằm phục hồi huyết áp.
Ở mỗi thận có tới 1-1,5 triệu những dơn vị thận(tiểu thận),liên kết với nhau bằng tổ chức liên kết(còn gọi là tổ chức khe) trong đó có mạch máu,mạch bạch huyết,dịch gian bào và thần kinh.Các tiểu thận không hoạt động cùng một lúc mà chỉ tùng phần một,thay phiên nhau hoạt động.Do đó mà thận có khả năng bù rất mạnh nhất là khi cắt một thận.Song về mặt bệnh lý đó cũng là một khó khăn,vì những tổn thương bộ phận của tổ chức thận nhiều khi không có biểu hiên rõ ràng để kịp thời phát hiện. 
Động mạch tới thận ngắn,đi thẳng từ động mạch chủ vào rồi chia nhánh tới các cầu thận,tạo ra bó mao mạch rồi tập trung thành mạch ra,tới ống thận lại phân chia thành mạng mạch bao quanh ống thận rồi mới đổ về tĩnh mạch,tạo ra hệ thống tuần hòan gánh của thận.Do trực tiếp với động mạch chủ nên huyết áp tại mao mạch cầu thận cao hơn các qua tổ chức khác ( bình thường từ 65-75 mmHg),tạo điều kiện cho quá trình lọc mach hơn nhưng đồng thời cũng làm cho thận dễ chịu ảnh hưởng của sự thay đổi huyết áp.
Ngoài ra,đáng chú ý nữa là ở vùng ranh giới giữa khu vực vỏ thận và lõi thận,có những mạch nối giữa động mạch và tĩch mạch,tạo ra một hệ thống sơn
(shunt) bình thường không hoạt động;trong sốc các sơn này mở ra cho máu chảy qua nhằm dồn máu cho các tạng quan trọng như tim,não(trạng thái này gọi là trung tâm hóa tuần hoàn),song đồng thời gây thiếu máu ở vỏ thận dẫn tới giảm thậm chí không tiết nước tiểu(suy thận cấp).
Bình thường,một phút có độ 650ml huyết tương cầu thận lọc được 120ml nước tiểu vào nang thận .Như vậy,tính ra trong một ngày,thận lọc được khoảng 190lít.Nếu không có chức năng tái hấp thu của ống thận chỉ trong chua đầy một giờ cơ thể sẻ kiệt nước.

B-CHỨC NĂNG LỌC CỦA CẦU THẬN

Cầu thận được coi như là một cơ quan siêu lọc,tức là hầu hết các thành phần của huyết tương đi qua,chỉ giữ lại các tế bào và hầu hết protein.
Nước tiểu lọc được ở cầu thận là nhờ có áp lực lọc.Áp lực lọc phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Pl = Pc-(Pk+Pn)
Trong đó:
-Pl là áp lực lọc,nhờ đó mà có nước tiểu.
-Pc là áp lực cầu thận tức là huyết áp ở cầu thận(bình thường từ 65-75 mmHg).
-Pk là lực kéo của máu,có tác dụng giữ nươc ở lại lòng mạch(bình thường là 28mmHg).
-Pn là áp lực của nang thận,tức là áp lực thủy tĩnh của nước tiểu nang,áp lực máu tĩnh mạch và tổ chức thận co tác dụng chống lại sức lọc của cầu thận(bình thường là 10 mmHg).
Như vậy Pl bình thường khỏang 40mmHg.
Qua công thức trên thấy rõ lượng nước tiểu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.Thí dụ:
-Khi Pn tăng(như trong suy tim toàn bộ),thấy Pl giảm,do đó lượng nước tiểu giảm.
-Khi Pc giảm(như trong sốc,suy tim mạch),cũng thấy Pl giảm.
Ngoài yếu tố kể trên còn có vai trò quan trọng của thần kinh và nội tiết trong quá trình điều hòa nước tiểu. 

C-CHỨC NĂNG TÁI HẤP THU VÀ BÀI TIÊT CỦA ỐNG THẬN

Ống thận có hai chức năng là tai hấp thu và bài tiết,thực hiện được là nhờ ở lớp tế bào ống thận có một hệ thống men phong phú.Khi một chất men nào đó không hoạt động,sẽ phát sinh rối loạn chức năng ống thận.

1.Chức năng tái hấp thu:
Phần lớn các chất của nước tiểu nang như đường, nước, muối được tái hấp thu gần hết trong ống thận.Đường được tái hấp thu hoàn toàn,trừ khi vượt ngưỡng của thận.Có những chất chỉ được tái hấp thu một phần như axit amin, phosphat, sufphat, ure… 
Quá trình tái hấp thu nước, Na+,K+ diễn biến qua hai giai đoạn khác nhau:
a)Giai đoạn đầu:ở phần đầu của ống thận (ống lượn gần),80% nước và Na+ được hấp thu, K+ được hấp thu gần 100%.Sự hấp thu của giai đoạn này không chịu ảnh hưởng của các hocmon.
b)Giai đoạn sau:ở phần còn lại của ống thận (quai Henle, ống lượn xa, ống góp), nước và Na+ được hấp thu theo yêu cầu của cơ thẻ dưới sự điều hòa của hocmon như:
-ADH của tuyến yên tăng tái hấp thu nước ở nhánh xuống của quai Henle và ống góp.
-Aldosteron của tuyến thượng thận tăng tái hấp thu Na+ ở nhánh lên của quai Henle,ống lượn xa và ống góp, đồng thời còn trao đổi K+ ở ống lượn xa.(Hình 1)
Tái hấp thu Na+ là một cơ chế thích nghi của cơ thể trong quá trình điều hòa cân bằng axit-bazơ (xem rối loạn cân bằng axit-bazơ).

2.Chức năng bài tiết:
Bài tiết ở ống thận là một hiện tượng chủ động, kết quả của sợ hoạt động tích cực của các tế bào chủ yếu ở đoạn xa của ống thận. Ngoài hoạt động bài tiết các chất điện giải nhằm duy trì cân bằng axit bazơ, ống thận còn bài tiết một số chất khác như axit hữu cơ thơm, axit hippuric, penixilin, PSP(phenol sulfophtalein),….mà cơ chế chưa rõ ràng.Những chất này không những được lọc qua cầu thận mà còn được bài tiết ở ống thận nên nồng độ các chất này ở nước tiểu cao hơn ở trong máu.

D-MỘT SỐ XÉT NGHIỆM THĂM DÒ CHỨC NĂNG THẬN

Để đánh giá chức năng lọc,tái hấp thu và bài tiết của tổ chức thận, người ta thường dùng hai xét nghiệm sau đây:
-Xét nghiệm thanh thải.
-Thăm dò chức năng cô đặc của thận.
-Sinh thiết thận.
-Phương pháp dùng đồng vị phóng xạ. 

1.Xét nghiệm thanh thải.
Thanh thải là phương pháp thăm dò chức năng từng bộ phận của tổ chức thận.
Nếu một chất trong máu được thải trừ ra nước tiểu với một đậm độ U (tính bằng mg/1) và khối lượng nước tiểu trong 1 phút là V (tính bằng ml) thì UV sẽ là lượng chất đó được thận thải trừ khỏi một khối lượng huyết tương C (tính bằng ml/phút). Và nếu P là độ đậm chất đó trong huyết tương (tính bằng mg/ml) thì chính là khối lượng C ấy mà người ta gọi là hệ số thanh thải của chất đó biểu diễn bằng công thức sau :
C = Như vậy hệ số thanh thải của một chất là khối lượng huyết tương qua cầu thận trong một phút được thận trừ bỏ hòan toàn chất đó khỏi huyết tương để chuyển vào trong nước tiểu.
Trên cơ sở nguyên lý này:
a)Muốn thăm dò chức năng lọc của cầu thận người ta dùng những chất chỉ lọc qua cầu thận mà không bị tái hấp thu cũng như không được bài tiết qua ống thận: những chất này phải không bị kết hợp với các protein huyết tương, không bị nhanh chóng chuyển hóa.Đạt những yêu cầu này là inulin, creatinin, manitol, Na hyposulfit…
Với những chất này hệ số thanh thải bằng 120ml/phút nghĩa là bằng khối lượng nước tiểu nang trong một phút (hình 2).Thí dụ đối với Manitol,P=2mg/ml,U=120mg/ml và V=2ml/ phút, ta có :
Cmanitol = = 120 ml/phót
b)Muốn thăm dò chức năng tái hấp thu của ống thận người ta tìm hệ số thanh thải của những chất sau khi lọc qua cầu thận lại được tái hấp thu ở ống thận như ure, glucoza, axit amin, axit uric, phosphat….
Với những chất này hệ số thanh thải nhỏ hơn 120ml/phút. Thí dụ đối với ure P=3mg/ml, U=112,5 mg/ml và V=2ml/phút. Ta cã :
Cure = = 75 ml/phut
c)Muốn thăm dò chức năng bài tiết của ống thận người ta tìm hệ số thanh thải của những chất vừa được lọc qua cầu thận vừa được bài tiết qua ống thận như PSP, axit hưu cơ thơm, axit hyppuric, PHA, axit paraamino hippuric…
Với những chất này hệ số thanh thải lớn hơn 120ml/phút.Thí dụ hệ số thanh thải của PHA bình thường là 650ml/phút (hình 3) 
Dưới đây là một số kết quả thường gặp trong bệnh lý:
-Trong viêm cầu thận thể cấp diễn thấy C manitol giảm còn C diodrast bình thường chứng tỏ chức năng lọc của cầu thận giảm, song chức năng bài tiết của ống thận vẫn bình thường.Trong thể trường diễn, thấy C manitol và C PSP đều giảm chứng tỏ không những chức năng lọc mà cả chức năng bài tiết cũng giảm.
-Trong suy tim mất bù,C inulin có thể giảm tới 30-35%, C PHA cũng giảm chứng tỏ lượng máu qua thận giảm.Trong sốc cũng thấy vậy.
-Trong bệnh huyết áp cao, thấy chức năng thận thay đổi qua 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu: hệ số thanh thải còn bình thường do chưa có thiếu máu rõ rệt tại thận.
+ Giai đoạn hai: C PHA và diodrast giảm còn C inulin vẫn bình thường chứng tỏ bắt đầu có tổn thương ở ống thận.
+ Giai đoạn ba: hệ số thanh thải của ống thận và cầu thận đều giảm chứng tỏ toàn bộ thận đều bị tổn thương.

2.Thăm dò chức năng cô đặc của thận
Một đặc điểm của tổ chức thận là tính mềm dẻo:khi có nhiều nước vào cơ thể thì nước được đào thải nhiều nên nước tiểu loãng, tỷ trọng thấp (tối thiểu 1003); khi ít nước vào cơ thể thid nước tiểu it, đặc và tỷ trọng cao (tối đa 1030). Khi tổ chức thận bị tổn thương thì tính mềm dẻo này giảm và có tình trạng đồng tỷ trọng. Khi ống thận không làm việc (tức là cũng không tái hấp thu và cũng không bài tiết) thì tỷ trọng bằng nước tiểu lọc ở cầu thận, tức la 1010. Đó là nguyên lý của xét nghiêm Phôn-ha và Strao (Volhard-Straus), tiến hành như sau:
Bệnh nhân nằm tại giường 24 giờ trước và trong suốt thời gian thí nghiệm chỉ dùng 500ml nước uống còn toàn ăn những thức ăn đặc.Hứng nước tiểu 3 giờ một lần và đo tỷ trọng mỗi mức cao phải đạt ít nhất là 1025.Trong suy thận tỷ trọng đó thấp, dưới 1020 và đặc biệt tỷ trọng nước tiểu các lần lấy không khác nhau mấy.Tình trạng đồng tỷ trọng thấp là một triệu chứng xấu vì chưng tỏ thậm giảm khả năng cô đặc.Trái lại trong viêm thận cấp có tình trạng đồng tỷ trọng cao nghĩa la tỷ trọng nước tiểu cacs lần lấy không chênh lệch nhau mấy song đều cao chứng tỏ cầu thận bị tổn thương để lọt qua nhiều chất hoặc ống thận bị tổn thương đẻ nước thấm trở lại quá nhiều, nên nước tiểu trở nên cô đặc.

3.Các xét nghiệm khác.
Để chẩn đoán và tiên lượng chính xác về các bệnh thận, người ta có thể làm sinh thiết thận: quan sát vi thể cho phép kết luận chíng xác bộ phận bị tổn thương và mức độ tổn thương.
Hiện nay người ta còn dùng chất đồng vị phóng xạ đưa vào máu để theo dõi thời gian máu tới cầu thận, ống thận.Đây là một kỹ thuật hiện đại giúp ta theo dõi một cách chính xác toàn bộ quá trình hoạt động của thận.

II.NGUYÊN NHÂN GÂY RỐI LOẠN TIẾT NIỆU.

Rất nhiều yếu tố có thể gây rối loạn tiêt niệu.Đại để có thể xếp thành hai loại lớn:
Những yếu tố ngoài thận.
Bệnh thận.

A-NHỮNG YẾU TỐ NGOẠI THẬN GÂY RỐI LOẠN TIẾT NIỆU

1.Ảnh hưởng của thần kinh và thần kinh-thể dịch.
Vỏ não chi phối chức năng tiết niệu thông qua phần dưới vỏ và hệ nội tiết. Khi gây một cảm xúc mạnh trên con vật thấy nước tiểu giảm do co thắt mạch ở vỏ thận.Có thể gây tăng tiết niệu bằng phương pháp phản xạ có điều kiện, cụ thể kết hợp cho nước vào dạ dày kết hợp rung chuông; khi phản xạ dã được thành lập chỉ cần rung chuông cũng gây được tăng tiết niệu.
Phần dươi vỏ cũng ảnh hưởng rõ rệt tới chức năng tiết niệu: nhiều trường hợp u não giữa gây tăng tiết niệu, dùng kim chọc vào sàn não thất IV hoặc vào vùng dưới thì thấy nước tiểu tăng rõ rệt.Ở vùng dưới thi (sàn não thất III) có thụ thể thẩm thấu và khối lượng: khi thiếu nước thụ thể này bị kích thích và từ đó xung động được truyền tới hậu yên gây tăng tiết ADH có tác dụng tăng tái hấp thu giữ nước lại. Điêu này cho phép giải thích sự giảm nước tiểu thường gặp trong sốc, chảy máu, mất nước.
Thần kinh thực vật cũng ảnh hưởng tới tiết niệu kích thích dây giao cảm bụng gây giảm tiết niệu do co mạch; trái lại khi cắt đứt dây này thấy tăng niệu.
Hocmon tuyến yên và vỏ thượng thận ảnh hưởng sâu sắc tới tiêt niệu: khi aldosteron máu tăng,Na+ bị giữ lại, kéo theo nước gây giảm niệu. Trái lại khi thiếu hocmon vỏ thượng thận (bệnh Addison) cơ thể mất Na+, kéo theo nước, bệnh nhân có tình trạng máu cô, dễ dẫn tới trụy tim mạch. Chất renin ở cầu thận tiết ra khi lượng máu qua thận giảm có tác dụng kích thích tiết aldosteron, dẫn tới giảm niệu.

2.Thay đổi thành phần và trạng thái lý hóa của máu.
Tất cả những trường hợp bệnh lý làm thay đổi thành phần và trạng thái lý hóa của máu, nhất là những rối loạn chuyển hóa, có thể làm tăng một số chất bình thường vẫn có trong nước tiểu hoặc làm xuất hiện những chất bình thường không có trong nước tiểu.
Trong nhiễm toan cố định thấy nước tiểu có nhiều chất toan.Trong đái tháo đường tụy thấy trong nước tiểu có đường.Trong bệnh vàng da tắc mật thấy axit mật và bilirubin trong nước tiểu.Khi tan máu ồ ạt (sốt rét cơn, truyền máu nhầm loại…) thấy trong nước tiểu có hemoglobin…..
Nói tóm lại, nước tiểu phần nào phản ánh được trạng thái lý hóa của máu, cho nên kiểm tra nước tiểu là một phương pháp không thể thiếu được trong khám nghiệm lâm sàng.

3.Rối loạn huyết động học
Áp lực lọc, như trên đã phân tích, chịu ảnh hưởng sâu sắc của huyết áp hay nói cho đúng hơn, của lưu lượng máu qua thận.Khi lưu lượng máu giảm trong sốc,chảy máu ,trụy tim mạch ,mất nước nghiêm trọng …thấy nươcs tiểu giảm và khi huyết áp cầu thận giảm tới 40mmHg sẽ phát sinh vô niệu.
Rối loạn tuần hoàn quan trọng nhất và thường xảy ra tại thận là tình trạng thiếu máu ở vỏ thận do hệ thống sơn (nối trực tiếp động mạch với tĩnh mạch)
dẫn đến thiếu niệu và vô niệu.Tất cả những chấn thương,kể cả những chấn thương tâm lý đều làm cho những ống thông này hoạt động ,gây giảm tiết niệu.
Rối loạn huyết động học nói chung hay rối loạn tuần hoàn tại thận những nếu kéo dài có thể gây thiếu máu ở tồ chức thận, gây ra những tổn thương thực thể nghiêm trọng.

  

Hiện chưa có bình luận nào

Họ Tên:
Email:

Nội dung: